Theo nghiên cứu ở Việt Nam, cây núc nác mọc ở các vùng núi Tây Bắc có dược tính tốt nhất.
I. Tổng quan cây núc nác:
- Tên khoa học: Oroxylum indicum (L.), Vent (Bignonia indica L., Calosanthes indica Blume); thuộc họ Chùm ớt (Bignoniaceae).
- Mô tả cây: Cây to cao 7-12m, có thể cao tới 20-25m, thân thẳng, ít phân nhánh, vỏ cây màu xám tro, nhưng khi bẻ có màu vàng nhạt. Lá to 2-3 lần kép lông chim, dài tới 2m. Lá chét hình bầu dục, nguyên, đầu nhọn, dài 7,5-15cm, rộng 5-6,5cm. Hoa màu đỏ tím, to mẫm, mọc thành chùm ở đầu cành, dài tới 1m, 5 nhị trong đó có 1 nhị nhỏ hơn. Quả nang to, dài tới 50-80cm, rộng 5-7cm, trong chứa hạt, bao quanh có một màng mỏng, bóng và trong, hình chữ nhật.
II. Tác dụng dược lý của cây núc nác:
Núc nác có tác dụng chống viêm, chống dị ứng rõ rệt, tăng sức đề kháng của cơ thể đối với một số tác nhân bất lợi từ bên ngoài vào cơ thể.
III. Cây núc nác trong Đông y:
Trong Đông y, cây núc nác được dùng trong các bài thuốc từ vỏ và hạt núc nác.
1. Vỏ núc nác (Cortex Oroxyli)
![]() |
| Vỏ núc nác khô |
Là phần vỏ của cây núc nác được phơi hay sấy khô, theo Đông y nước ta còn gọi là Nam hoàng bá. Theo sách Nam Ninh thị dược vật chí: Có thể sử dụng vỏ núc nác thay cho hoàng bá. Vỏ núc nác có thể thu hoạch gần như quanh năm, tốt nhất vào mùa xuân, hạ. Thường đẽo vỏ trên cây còn sống, ít nơi hạ cây. Vỏ núc nác màu nâu nhạt, trên có rất nhiều sẹo của cuống lá cũ và rất nhiều những đám nhỏ nổi lên, mặt trong khi còn tươi có màu vàng nhạt, không mùi, vị đắng, hơi hắc.
- Tính vị: Vị hơi đắng, tính mát.
- Bào chế: Vỏ núc nác lấy về dùng tươi hay phơi, sấy khô, không phải chế biến gì.
- Tác dụng: Thanh nhiệt lợi thấp, tiêu thũng giải độc. Chủ trị viêm gan do nhiễm trùng, vàng da, viêm bàng quang, yết hầu sưng đau, thấp chẩn (eczema), ung nhọt lở loét.
2. Mộc hồ điệp (Semen Oroxyli)
![]() |
| Hạt núc nác |
Là phần hạt của cây núc nác phơi hay sấy khô. Hạt núc nác làm thuốc có tên là mộc hồ điệp (Mộc là gỗ, cây; Hồ điệp là con bướm) vì hình dạng giống như con bướm. Muốn thu hoạch hạt, đợi tới cuối thu sang đông, hái lấy quả chín, phơi khô, mổ lấy hạt rồi lại phơi khô nữa để dành dùng dần. Dùng những hạt khô, màu trắng, còn nguyên là tốt.
- Bào chế:
- Làm sạch (tinh chế): Loại bỏ tạp chất, rây bỏ mạt vụn màu xám
- Sao tẩm: Có 2 cách:
- Tẩm muối: Lấy mộc hồ điệp đã tịnh chế, cho vào chảo, đun nhỏ lửa (văn hỏa) cho nóng, vừa sao vừa phun nước muối vào, sao đến khi rìa hạt có màu đen thì lấy ra, để nguội. Mỗi 1kg mộc hồ điệp dùng 1,86kg muối (cách chế ở Quý Châu, TQ).
- Tẩm mỡ dê: Cho mỡ dê vào chảo đun cho nóng chảy, bỏ bã, cho mộc hồ điệp vào sao nhỏ lửa cho đến khi hơi ngả màu vàng thì lấy ra, để nguội (cách chế biến ở Vân Nam, TQ).
- Tính vị, quy kinh: Mộc hồ điệp có vị đắng, tính lạnh, vào 2 kinh can và phế.
- Tác dụng: Mộc hồ điệp có công dụng nhuận phế, thanh phế nhiệt, lợi yết hầu, thư can, hòa vị, sinh cơ. Chủ trị ho do phong nhiệt, ho gà (bách nhật khái), ho do lao, cổ họng sưng đau, khản tiếng, viêm phế quản cấp và mạn tính, yết hầu sưng đau, viêm amiđan, đau vùng gan, dạ dày, vết thương không liền miệng, bệnh vảy nến, dị ứng ngoài da. Ngoài ra, theo sách Ðiền Nam bản thảo: còn có tác dụng định suyễn, tiêu viêm, phá tích trệ, lại có thể bổ hư, khoan trung, tiến thực.
- Cách dùng và liều dùng: Dùng trong từ 6-9g sắc với nước, hoặc nghiền nhỏ uống. Dùng ngoài: giã đắp, dán lên vết thương.




: Giải pháp thiết kế Web đám mây bởi:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét